
B.1.255- NHAM XƯƠNG BỒ TENUIFOLIA
(Không có Thơ)
Sưu tập :
2- Chi Pleea
B.1.255- Nham xương bồ Tenuifolia - Pleea tenuifolia New
Pleea tenuifolia là loài thực vật có hoa thuộc chi Pleea, họ Nham xương bồ Tofieldiaceae.
Nguồn : Wikipedia & Internet
Blogger của Bùi Xuân Phượng - Một lão nông dân sinh năm 1938 yêu thơ, yêu thiên nhiên... - Địa chỉ: thôn Bình Phiên, xã Ngọc Liên, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. - Email: buixuanphuong09@gmail.com : buixuanphuong09@yahoo.com.vn

B.1.255- NHAM XƯƠNG BỒ TENUIFOLIA
(Không có Thơ)
Sưu tập :
2- Chi Pleea
Pleea tenuifolia là loài thực vật có hoa thuộc chi Pleea, họ Nham xương bồ Tofieldiaceae.
Nguồn : Wikipedia & Internet
11- Họ Tofieldiaceae - Nham xương bồ



B.1.254- NHAM XƯƠNG BỒ FLAVA
(Không có Thơ)
Sưu tập :
1- Chi Harperocallis
B.1.254- Nham xương bồ flava - Harperocallis flava New
Harperocallis là loài thực vật có hoa thuộc chi Harperocallis, họ Nham xương bồ Tofieldiaceae, là một loài đặc hữu của các vùng của Florida, Hoa Kỳ, nơi nó được biết đến chủ yếu từ Rừng Quốc gia Apalachicola ở Panhandle. Nó đang bị đe dọa nghiêm trọng và nằm trong danh sách các loài có nguy cơ tuyệt chủng của Hoa Kỳ từ năm 1979. Hoa dại được mô tả lần đầu tiên vào năm 1968 và đến năm 1979 chỉ có ba quần thể được biết đến với tổng số ít hơn 100 cá thể. Hai trong số các quần thể này thực sự đủ gần nhau để được coi là một quần thể. Tất cả chúng đều nằm trong Rừng Quốc gia Apalachicola và Sở Lâm nghiệp Hoa Kỳ quản lý khu vực đặc biệt để bảo tồn loài thực vật quý hiếm này. Quần thể bảy mươi cây ở đó nằm trên tài sản tư nhân và nó không được bảo vệ. Đây là một loại cây thân rễ sống lâu năm với các tua lá cứng, dài đến 21 cm. Cụm hoa là hoa đơn tính trên cuống dài, mọc thẳng, nở vào tháng 4-5. Nó có lớp vảy màu vàng dài tới 1,5 cm chuyển sang màu xanh lục khi cây ra quả. Trong khi cây có thể tự thụ tinh, nó cũng có thể được thụ phấn bởi côn trùng, đặc biệt là ong halictid. Môi trường sống tự nhiên của loài thực vật này là một bãi lầy hoặc đồng cỏ ẩm ướt có thấm. Đất chua, nhiều cát và nhiều than bùn.
Nguồn : Wikipedia & Internet
10- Họ Scheuchzeriaceae - cỏ băng chiểu

Hình dạng chung của cây đang ra hoa (trái) và mang quả (phải)
B.1.253- CỎ BĂNG CHIỂU
Tên em Băng chiểu họ đơn loài
Á-Mỹ hai miền phân biệt thôi
Thân rễ vươn sâu thường tách nhánh
Than rêu lớp phủ trụ lâu dài.
BXP 22.8.2017
Sưu tập :
Chi Scheuchzeria
B.1.253- Cỏ băng chiểu - Scheuchzeria palustris New
Cỏ băng chiểu Scheuchzeria palustris là một loài thực vật một lá mầm, thuộc chi đơn loài Scheuchzeria, họ đơn chi Scheuchzeriaceae trong bộ Trạch tả (Alismantales). Có 2 phân loài là:
Cỏ băng chiểu châu Âu - Scheuchzeria palustris subsp. palustris. Miền bắc và đông châu Âu, miền bắc châu Á.
Cỏ băng chiểu Bắc Mỹ - Scheuchzeria palustris subsp. americana. Miền bắc Bắc Mỹ.
Mô tả: Các lá thẳng, rõ nét, phân bố 2 tầng dọc theo thân cây ngắn có thể bị nhầm là lá của loài nào đó trong các họ như cói hay hòa thảo. Ở gốc lá có bẹ hở và tương đối dài, tách khỏi phiến lá bằng phần nhô ra nằm ngang dạng màng — thùy lưỡi, hơi thấp hơn một chút so với đỉnh lá trên mặt trên của nó nổi rõ một hốc gần như thuôn tròn — một lỗ thủy dịch, đóng vai trò của lỗ thoát nước để thoát nước dư thừa. Ở các nách lá là các lông tơ đa bào, tương đồng với các vảy nội bẹ của nhiều loài thực vật một lá mầm sống thủy sinh hay trong vùng đầm lầy. Trong tất cả các cơ quan sinh dưỡng có nhiều mô hô hấp, cho phép các chồi non của cỏ băng chiểu nhô lên khỏi mặt nước. Ra hoa tháng 5-6. Ra quả tháng 6-7.
Nơi mọc: Cỏ băng chiểu là một loại cây thân thảo sinh sống trong khu vực đầm lầy nước lạnh vùng ôn đới và hàn đới Bắc bán cầu.
Nguồn : Wikipedia & Internet

B.1.252- CỎ BỒ CÂU
(Không có Thơ)
Sưu tập :
B.1.252- Cỏ bồ câu - Ruppia maritima New
Ruppia maritima là loài thực vật có hoa thủy sinh thuộc chi cỏ kim Ruppia, họ cỏ kim Ruppiaceae. Nó được biết đến với tên thông thường là cây tua cuốn có mỏ và cỏ bồ câu. Mặc dù có tên khoa học, nó không phải là một loài thực vật biển; có lẽ được mô tả tốt nhất là loài nước ngọt chịu mặn. Tên chung Ruppia được Linnaeus đặt cho nhà thực vật học người Đức Heinrich Bernhard Ruppius (1689-1719) và tên cụ thể (maritima) được dịch là "của biển". Ruppia maritima là một loại thảo mộc hàng năm hoặc lâu năm, dạng sợi mảnh, mọc từ thân rễ neo cạn trong nền ẩm ướt. Nó tạo ra một cụm hoa dài, hẹp, thẳng hoặc cuộn lỏng với hai hoa nhỏ. Cây thường tự thụ phấn, nhưng hoa cũng giải phóng phấn hoa đến các cây khác khi nó trôi đi trên bong bóng. Chúng phân tán trong nước và bên trong hệ tiêu hóa của cá và chim nước ăn chúng. Cây cũng sinh sản sinh dưỡng bằng cách nảy mầm từ thân rễ để tạo thành các đàn.
Loại thực vật này và tảo biểu sinh bám trên các lá nổi có thể là một phần quan trọng trong khẩu phần ăn cho các loài chim nước ăn cỏ được chọn lọc, nhưng không quan trọng đối với các loài chim nước săn mồi ăn cá hoặc động vật không xương sống.
Ở nhiều khu vực, việc khôi phục đất ngập nước bắt đầu bằng việc phục hồi và bảo vệ loài thực vật này.
Nguồn : Wikipedia & Internet
LỜI ĐẦU TÂM SỰ Tôi chỉ là một nông dân, quanh năm làm bạn với bùn sâu rơm cỏ, cả đời chỉ quẩn quanh bên lũy tre làng, tai nghễnh ngãng, gia...